BIÊN NIÊN SỬ ĐẠO CAO ĐÀI – Q147. * BBT/Hiền Tài Huỳnh Tâm. Mai Văn Tìm. Nguyễn Văn An.

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

BIÊN NIÊN SỬ ĐẠO CAO ĐÀI
BBT/Hiền Tài Huỳnh Tâm.
Mai Văn Tìm.
Nguyễn Văn An.

Quyển 147

Nội Dung13 - 01-1991 18 -12 -1991.
Đàn Cơ, Thánh Ngôn, Thánh Lịnh, Thánh Giáo, Đạo Thi, Đạo Lịnh, Sắc Lịnh, Sắc Huấn, Huấn Dụ, Huấn Từ, Diễn Văn, Đạo Nghị Định, Châu Tri, Cương Lĩnh.
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
PHÚC TRÌNH
TRÍCH YẾU: - V/v nghiên cứu thực hành nghi thức và hiến lễ tại Thánh Thất, Điện Thờ địa phương.
THAM CHIẾU: - Các phiên họp ngày 13, 17, 23, 25, 27 tháng 11 năm Canh Ngọ.
Kính Hội Đồng,
Thi hành chỉ thị số 68/VT đề ngày 6 tháng 11 Canh Ngọ (22-12-1990) của Hội Đồng Chưởng Quản quy định thành phần Ban Nghiên cứu, sưu tầm thực hiện về nghi lễ Đạo thống nhất, do vị Cãi Trạng Lê Minh Khuyên, Hội viên Hội Đồng Chưởng Quản làm Trưởng Ban và có 10 hội viên: đại diện HĐCQ, đại diện Ban Cai Quản Thánh Thất, Điện Thờ địa phương. Căn cứ phiên họp và đề cử ngày 28 tháng 10 năm Canh Ngọ tại Giáo Tông Đường/ Chư Chức Sắc hội viên có tên dưới đây:
         - Giáo Hữu Ngọc Hương Thanh, Phó Từ Hàn HĐCQ.
         - Chí Thiện Võ Thị Hoành, Hội viên HĐCQ.
         - Giáo Hữu Thái Sáu Thanh, Cai Quản Thánh Thất Hiệp Ninh.
         - Giáo Hữu Thượng Lý Thanh, Cai Quản Thánh Thất Thị trấn Hòa Thành.
         - Giáo Hữu Ngọc Thưởng Thanh, Cai Quản Thánh Thất Ninh Phước.
         - Lễ Sanh Ngọc Hồng Thanh, Cai Quản Thánh Thất Trường Tây.
         - Giáo Thiện Nguyễn Văn Ký, Cai Quản Điện Thờ Trường Tây.
         - Giáo Thiện Bùi Văn Kiết, Cai Quản Điện Thờ Ninh Hòa.
         - Giáo Thiện Lê Thị Nhạn, Cai Quản Điện Thờ Thị trấn.
         - Thính Thiện Nguyễn Minh Nguyệt, Phó Cai Quản Điện Thờ H. An.
Toàn hội đã đề cử vị Giáo Hữu Ngọc Hương Thanh, Phó Từ Hàn HĐCQ là Phó Ban và Lễ Sanh Ngọc Hồng Thanh làm Thư Ký.
Buổi thảo luận đầu tiên được tổ chức lúc 8 giờ ngày 13-11-Canh Ngọ (29-12-1990) tại Giáo Tông Đường. Vị Trưởng Ban và các hội viên đã nhất trí về thời gian làm việc trong mỗi tuần là: Thứ 3, Thứ 5 và Thứ 7. Giờ làm việc từ 8 giờ đến 11 giờ.
Chương trình hội thảo gồm các phần chính như sau:
         - Phần thứ nhứt: Nghi thức thờ phượng nơi Thánh Thất và Điện Thờ Phật Mẫu địa phương và tại tư gia.
         - Phần thứ nhì: Cách thức hiến lễ thống nhất tại Thánh Thất, Điện Thờ và tư gia.
Để có đủ cơ sở cho việc thực hiện nghi thức thờ cúng đồng nhất trên đây, Ban Nghiên cứu đã sưu tầm các tài liệu của các bậc tiền bối và Hội Thánh đã ban hành từ thử gồm có:
         - Quyển Nghi tiết Đại Đàn, Tiểu Đàn tại Tòa Thánh và Thánh Thất các nơi của Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt, Hội Thánh ấn hành năm Canh Ngọ (1930)
         - Quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo của Hội Thánh Tòa Thánh Tây Ninh ấn hành.
         - Bản sao lời dạy của Đức Hộ Pháp ngày 6-1-Đinh Hợi (27-01-1947) do Thừa Sử Phạm Ngọc Trấn ký tên và Ngài Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài Trương Hữu Đức ký tên sao lục ban hành ngày 18-11-Canh Thân (24-12-1980).
         - Hội Thánh Cửu Trùng Đài ban hành:
         + Huấn Thị số 01/HT đề ngày 20-2-Đinh Mùi (30-3-1967).
         + Huấn Dụ số 03/HD đề ngày 27-2-Bính Ngọ (18-3-1966).
         + Thánh Huấn số 1-NCPS/TH đề ngày 19-5-Canh Tuất (22-6-1970).
         + Thông Tri số 05/NCPS-TT đề ngày 12-7-Mậu Ngọ (15-8-1978).
         + Chỉ Thị số 33/ĐS/TT đề ngày 26-6-Mậu Ngọ (30-7-1978).
         + Thông Tri số 12/TT đề ngày 11-5-Ất Mão (20-6-1975).
         + Chỉ Thị số 114/QCQ.HTĐ đề ngày 25-9-Mậu Ngọ (26-10-1978) của Ngài Bảo Đạo, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.
         + Chỉ Thị số 181/QCQ.HTĐ đề ngày 12-11-Canh Thân (18-12-1980) của Ngài Bảo Đạo, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.
         + Chỉ Thị số 111/HĐCQ đề ngày 12-6-Tân Dậu (13-7-1981) của Ngài Bảo Đạo và Ngài Ngọc Đầu Sư.
Sau khi nghe đọc các tài liệu trên có liên quan đến nghi thức thờ cúng tại Thánh Thất, Điện Thờ Phật Mẫu địa phương và tư gia, toàn hội lần lượt phát biểu và đi đến thống nhất theo tinh thần chỉ dạy của Hội Thánh đã quy định từ thử, có những điều chưa rõ sẽ ghi ở phần sau để đưa ra hội nghị quyết định.
Kết quả các buổi hội thảo như sau:

I- NGHI THỨC THỜ TẠI THÁNH THẤT:
Nơi Thánh Thất có lập các nghi thờ chánh như dưới đây:
A- NGHI THỜ CHÍ TÔN, TAM GIÁO, TAM TRẤN, NGŨ CHI
1- Thánh Tượng THIÊN NHÃN (mẫu thống nhất).
2- Đèn Thái Cực và Long vị Tam Giáo, Tam Trấn, Ngũ Chi Đại Đạo, đẳng cấp, Thánh danh sắp đặt như sau:
Hàng trên (thứ nhứt):
         - Chính giữa: TÂY PHƯƠNG GIÁO CHỦ.
         - Trái (ngoài ngó vô): THÁI THƯỢNG ĐẠO TỔ.
         - Phải (ngoài ngó vô): KHỔNG THÁNH TIÊN SƯ.
Hàng thứ nhì:
         - Chính giữa: THÁI BẠCH KIM TINH.
         - Trái (ngoài ngó vô): QUAN ÂM NHƯ LAI.
         - Phải (ngoài ngó vô): HIỆP THIÊN ĐẠI ĐẾ.
Hàng thứ ba:
         - Chính giữa: GIA TÔ GIÁO CHỦ.
Hàng thứ tư:
         - Chính giữa: KHƯƠNG THƯỢNG TỬ NHA.
Hàng thứ năm:
         - Chính giữa: GIÁO TÔNG ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ.
(Long vị được viết bằng chữ Nho).
(Những nơi nào có Thánh Lịnh của Đức Hộ Pháp truy phong Thánh Tử Đạo thì tạo thêm long vị nầy, để hai bên ngang long vị của Đức Khương Thái Công).
3- Dĩa Trái cây.
4- Bình bông.
5- Chung nước trà.
6-7-8- Ba ly rượu.
9- Chung nước trắng.
11- Lư hương (cắm 5 cây hương khi cúng).
10-12- Cặp đèn lưỡng nghi.
Tất cả bửu vật để trên bàn nghi thờ Chí Tôn phải đúng vị trí theo sơ đồ của Hội Thánh hướng dẫn, không thêm không bớt.
B- BÀN NỘI NGHI
Bàn Nội nghi được đặt trước cửa Bửu Điện và cách bàn thờ Chí Tôn một khoảng trống (chỗ qua lại trông coi đèn, nhang, trà, nước v.v...) Khoảng trống cách bàn thờ Chí Tôn và Nội nghi không có quy định mà phải tùy theo mỗi Thánh Thất lớn hay nhỏ.
Trên bàn Nội nghi sắp đặt các báu vật như dưới đây:
1- Mâm để Sớ (phía trong, chính giữa).
2- Dĩa Trái cây.
3- Bình bông.
4- Lư trầm (để xông trầm khi cúng).
5-7- Cặp đèn nghi.
6- Lư hương (cắm 3 cây hương khi cúng).
C- BÀN KINH (còn gọi là bàn để chuông mõ).
1- Lư đốt Sớ (để ngay chính giữa).
2- Mõ (phía bên nữ).
3- Chuông (phía bên nam).
D- BÀN NGOẠI NGHI
Bàn Ngoại nghi được đặt phía trước và cách bàn nghi thờ Hộ Pháp một khoảng trống, thế nào để 4 vị lễ sĩ hiến lễ quỳ mà không trở ngại là được.
Bàn Ngoại nghi gồm có:
1-3- Cặp đèn nghi.
2- Lư hương.
4- Ly trà.
5- Ly rượu
6- Trái cây.
7- Cây đèn nhỏ để ngay chính giữa (đèn vọng).
8- Bình bông.
(Thi hành theo Huấn Thị số 01/HP đề ngày 20-2-Đinh Mùi (30-3-1967) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài và Chỉ Thị số 181/QCQ.HTĐ đề ngày 12-11-Canh Thân (18-12-1980) của Ngài Bảo Đạo, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.
E- BÀN NGHI THỜ HỘ PHÁP
Nghi thờ Hộ Pháp được đặt đối diện với Nghi thờ Đức Chí Tôn trong chánh điện (ngoài ngó vô).
Nghi thờ Hộ Pháp gồm có:
1- Tượng viết chữ Khí (mẫu thống nhất y như Tòa Thánh).
2- Dĩa trái cây.
3- Bình bông.
4- Chung nước trà.
5-6-7- Ba ly rượu.
8- Chung nước trắng.
9- Lư hương (cắm 3 cây hương khi cúng).
10-11- Cặp đèn nghi.
(Thi hành theo sự chỉ dẫn của Hội Thánh ghi trong quyển Tân Kinh).
Hai bên bàn nghi thờ Hộ Pháp không được đặt dàn lỗ bộ, tàng, lọng, chỉ treo phướn Thượng Phẩm bên hữu nghi thờ, phướn Thượng Sanh bên tả nghi thờ, trên phướn Thượng Phẩm có treo bửu pháp của Ngài là Long Tu Phiến, trên phướn Thượng Sanh có treo bửu pháp của Ngài là Thư Hùng Kiếm và Phất Chủ (gác tréo nhau).
Những phần phụ khác trong chánh điện Thánh Thất gồm có:
1- Một cặp tàng màu xanh.
2- Một cặp lọng màu vàng.
3- 8 Bửu bối của Bát Tiên (gọi là dàn Bát Bửu).
Dàn Bát Bửu và Tàng, Lọng được đặt hai bên bàn Nội nghi:
         - Phía trong dựng cặp Tàng.
         - Giữa dàn Bát Bửu.
         - Phía ngoài dựng cặp Lọng.
4- Khi nào có cúng tuần cửu cho bổn đạo tại Thánh Thất thì lập thêm một bàn để linh vị người quá vãng. Bàn nầy được đặt giữa chánh điện, ngang cửa hông Thánh Thất (Lưu ý: Khi cúng xong dọn cất).
5- Những Thánh Thất được xây dựng theo sơ đồ của Hội Thánh, có lầu chuông, trống, có Hiệp Thiên Đài và Thông Thiên Đài, nới Thông Thiên Đài Tòa Thánh có thờ Thiên Nhãn, có nghi thức rõ ràng và hiện nay các Thánh Thất nầy cũng có thờ như vậy. Đặc biệt Bàn nghi thờ nầy không thấy Lễ Viện lập nghi Tam Bửu như tại Chánh Điện mà khi nào cúng thời mới đem lên, chẳng hạn như thời Tý, thời Ngọ dâng rượu mới rót một ly rượu, thời mẹo, dậu dâng trà nước mới đem bình trà nước lên cúng. Ngoại trừ ngày đàn vía có dâng đủ Tam Bửu như Hoa, Rượu (1 ly), Trà (1 chung), Nước trắng (1 chung). Phần nầy nhờ Hội Thánh góp ý để thi hành đồng nhất nơi các Thánh Thất.
F- NGHI THỜ TẠI HẬU ĐIỆN THÁNH THẤT
Hậu Điện Thánh Thất có nơi gọi là Thiên Phong Đường. Căn giữa Hậu Điện có nơi lập nghi thờ chư Tiên Linh. Nghi thờ được sắp đặt như sau:
1- Long vị viết chữ Nho:
         - Hàng giữa chữ lớn: CHƯ TIÊN LINH.
         - Phía trên hai bên viết: CUNG THỈNH.
         - Phía dưới hai bên viết: CHI VỊ.
2- Đèn vọng (để ngay chính giữa, khi nào có cúng thì đốt).
3- Dĩa trái cây.
4- Bình bông.
5- Một chung trà.
6- Một ly rượu.
7-9- Cặp đèn nghi.
8- Lư hương (cắm 3 cây hương khi cúng).
10-11- Hai cây Lọng.
Hai căn còn lại hai bên bàn thờ Chư Tiên Linh có thể đặt 2 bàn nghi để cúng tế vong linh khi tuần tự của bổn đạo, trên bàn nầy cũng có đủ bình bông, dĩa chưng trái cây, lư hương, ly, chung, bình, nhạo, v.v... Trên bàn không viết chữ chi hết, chỉ để trống mà thôi. Khi làm tuần đến phần thế đạo thì để linh vị người quá cố tại đây, nam theo nam, nữ theo nữ (Linh vị cô đơn đem tạm an vị nơi Hậu Điện Điện Thờ).
Nơi Hậu Điện, tất cả những hình ảnh lưu niệm của chư tiền bối chỉ được treo trên tường và treo những nơi tinh khiết mà không lập nghi thờ.
(Thi hành Chỉ Thị số 001/TT đề ngày 26-10-Đinh Tỵ (6-12-1977) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài).
II- NGHI THỨC THỜ PHẬT MẪU VÀ CÁC ĐẤNG THIÊNG LIÊNG TẠI ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU ĐỊA PHƯƠNG
Cách lập nghi thờ Phật Mẫu, Cửu vị Nữ Phật, Bạch Vân Động, Chư Thánh và Chư Chơn Linh nơi mỗi Điện Thờ địa phương như sau:
1- LONG VỊ viết chữ:
         - Hàng chính giữa chữ lớn: DIÊU TRÌ KIM MẪU.
         - Hàng bên hữu (trong ngó ra): viết chữ nhỏ hơn, thấp xuống 6/10 CỬU VỊ NỮ PHẬT.
         - Hàng bên tả (trong ngó ra): viết chữ nhỏ hơn, thấp xuống 6/10 BẠCH VÂN ĐỘNG CHƯ THÁNH
Long vị viết bằng chữ Nho.
2- Đèn vọng (để ngay chính giữa).
3- Dĩa trái cây.
4- Bình bông.
6- Lư hương (cắm 5 cây hương khi cúng).
5-7- Cặp đèn nghi.
8- Chung nước trà.
9-10-11- Ba ly rượu.
12- Chung nước trắng.
13-15- Cặp đèn nghi.
14- Lư hương (cắm 9 cây hương khi cúng).
B- BÀN NỘI NGHI
Bàn Nội nghi được đặt cách bàn nghi thờ Phật Mẫu một khoảng trống vừa để cho lễ viện qua lại trông coi đèn, nhang, trà, nước v.v... (nơi nầy không quỳ cúng).
Cách lập bàn Nội nghi như sau:
1- Bàn vọng (để ngay giữa).
2- Dĩa trái cây.
3- Bình bông.
4- Chung nước trà.
5-6-7- Ba ly rượu.
8- Chung nước trắng.
9- Lư trầm (xông trầm khi cúng).
10-12- Cặp đèn nghi.
11- Lư hương (đốt 3 cây hương khi cúng).
Trên bàn Nội nghi không để chuông mõ, chuông mõ phải để hai bên ghế nhỏ (ngang bàn Nội nghi).
C- BÀN NGOẠI NGHI
Bàn Ngoại nghi gồm cò:
1-3- Cặp đèn nghi.
2- Lư hương (cắm 3 cây hương khi cúng).
4- Một chung trà.
5- Một ly rượu.
6- Trái cây.
7- Bàn vọng (để ngay giữa).
8- Bình bông.
 (Thi hành Huấn Thị số 01/HT đề ngày 20-2-Đinh Mùi (30-3-1967) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài và và Chỉ Thị số 181/QCQ.HTĐ đề ngày 12-11-Canh Thân (18-12-1980) của Ngài Bảo Đạo, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài.
CÁC PHẦN KHÁC TRONG ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU
- Ngang bàn Nội nghi có đặt 2 bàn Lỗ bộ (có mẫu thống nhất từ trung ương đến địa phương), bên trong dựng một cặp Tàng màu vàng, bên ngoài bàn Lỗ bộ dựng một cặp Lọng cũng màu vàng (một màu).
D- BÀN NGHI TẢ BAN, HỮU BAN
Hai bên đại điện thờ Phật Mẫu có lập 2 nghi thờ gọi là Tả Ban và Hữu Ban. Nghi thờ Tả Ban thờ Chư Chơn Linh Nam phái, nghi thờ Hữu Ban thờ Chư Chơn Linh Nữ phái. Cách sắp đặt như sau:
1- Tượng thờ viết chữ:
         CHƯ CHƠN LINH NAM PHÁI (bên tả)
         CHƯ CHƠN LINH NỮ PHÁI (bên hữu)
2- Đèn vọng (để ngay giữa).
3- Trái cây.
4- Bình bông.
5- Nước trà.
6-7-8- Ba ly rượu.
9- Nước trắng.
10-12- Cặp đèn nghi.
11- Lư hương (cắm 3 cây hương khi cúng).
Nơi Điện Thờ Phật Mẫu địa phương không thờ hình tượng các Đấng Thiêng Liêng hay hình ảnh các vị tiền bối.
(Thi hành Chỉ Thị số 114/QCQ.HTĐ ngày 25-9-Mậu Ngọ (26-10-1978) của Ngài Bảo Đạo, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài).
E- DÀN NGHI THỜ TẠI HẬU ĐIỆN ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU ĐỊA PHƯƠNG
Bàn nghi thờ tại hậu điện Điện Thờ Phật Mẫu địa phương cũng phải tùng y như Đền Thờ Phật Mẫu (Báo Ân Từ). Nơi hậu điện Báo Ân Từ ngay chính giữa có lập bàn nghi thờ Tam Thiên Quân (Phước, Lộc, Thọ) viết chữ Nho, ngoài ra không có lập bàn nghi nào khác. Các Điện thờ địa phương phải lập nghi thờ như sau:
1- Tượng viết chữ Nho, chữ lớn: PHƯỚC, LỘC, THỌ.
2- Đèn vọng (để ngay chính giữa).
3- Trái cây.
4- Bình bông.
5- Chung nước trà.
6- Ly rượu.
7-9- Cặp đèn nghi.
8- Lư hương (cắm 3 cây hương khi cúng).
(Thi hành Chỉ Thị số 114/QCQ.HTĐ đề ngày 25-9-Mậu Ngọ (26-10-1978) của Ngài Bảo Đạo, Quyền Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài).

I- MỘT SỐ NGHI LỄ TẠI THÁNH THẤT
Ngày Đại lễ Đức Chí Tôn, Đàn vía các Đấng Thiêng Liêng và Sóc, Vọng hằng tháng tại Thánh Thất được tổ chức theo sự chỉ dẫn của Hội Thánh. Một số nghi tiết được ghi trong quyển "NGHI TIẾT ĐẠI ĐÀN, TIỂU ĐÀN TẠI TÒA THÁNH VÀ THÁNH THẤT CÁC NƠI" của Đức Ngài Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt do Hội Thánh ấn hành năm Canh Ngọ (1930).
Mỗi khi Chư Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu nam nữ về chầu lễ Đức Chí Tôn và các Đấng tại Thánh Thất cần nghiêm túc thực hiện theo những lời chỉ dạy của Đức Quyền Giáo Tông, chẳng hạn như khi mặc thiên phục rồi thì không nên ăn trầu hay hút thuốc nữa, tâm hồn bình thản gìn giữ sự trang nghiêm thanh tịnh để hiến lễ.
Đến giờ Lễ Sĩ khởi xướng "Lôi Âm Cổ Khởi" tất cả đều phải đứng thủ lễ, Lễ Viện đánh 3 tiếng trống khởi đầu, tiếp kệ 4 cầu như sau:
         "Lôi Âm thính cổ triệt hư không,
         Truyền tấu càn khôn thế giái thông.
         Đạo pháp đương kim dương chánh giáo.
         Linh quang chiếu diệu Ngọc Kinh Cung".
Tiếp tục đánh trống cho đủ 3 hiệp, mỗi hiệp 12 hồi, mỗi hồi 12 dùi.
Lễ tiếp tục xướng Bạch Ngọc Chung Kinh, tất cả cũng phải đứng thủ lễ y như kệ trống, Lễ Viện khởi dộng 3 tiếng chuông đầu và tiếp tục kệ 4 câu như sau:
         "Thần chung thinh hướng phóng Phong Đô,
         Địa Tạng khai môn phóng xá cô.
         Tam Kỳ vận chuyển kim quang hiện,
         Sám hối âm hồn xuất u đồ".
(Quyển Nghi tiết Đại đàn, Tiểu đàn của Đức Ngài Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt).
Đến khi nghe dứt một hiệp chuông, Lễ tiếp xướng "Cung thành thứ tự Chức Sắc nhập đàn" thì chư Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu nam nữ lần lượt sắp hàng một, tay bắt Ấn Tý để trước ngực đi vào bửu điện, phân đứng hai bên nam, nữ. 3 hiệp chuông dứt, Lễ khởi xướng "Nội nghi, ngoại nghi tựu vị" nếu là Đại đàn, còn Tiểu đàn chỉ xướng "Nội nghi tựu vị", vị Chức Sắc chứng đàn Nội nghi và vị Chức Sắc đính lễ Ngoại nghi xá bước vào bửu điện, chỗ đã định sẵn. Tiếp theo Lễ xướng "Thiên phong dĩ hạ các tư kỳ vị", Lễ Viện khắc 3 tiếng chuông, tất cả xá đàn bước vào bửu điện, sau vị chứng đàn, tùy theo đẳng cấp mà sắp đặt cho có trật tự phân minh, hướng vào ngôi thờ Chí Tôn thủ lễ chờ Nhạc tấu huân thiên.
Cách lạy Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng đã được chỉ dẫn sau mỗi bài kinh.
         - Dứt bài Niệm hương, lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi lần gật niệm "Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" tất cả 12 gật, niệm câu chú Thầy 12 lần.
         - Dứt bài Khai kính, cúi đầu không có lạy.
         - Dứt bài Đại La Thiên đế lạy 3 lạy, mỗi lạy 4 gật, mỗi lần gật niệm "Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát", gật 12 lần, niệm 12 lần.
         - Dứt bài Phật giáo lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi lần gật niệm "Nam mô Nhiên Đăng Cổ Phật Đại Bồ Tát Ma Ha Tát", gật 9 lần, niệm 9 lần.
         - Dứt bài Tiên giáo lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi lần gật niệm "Nam mô Thái Thượng Đạo Tổ Tam Thanh Ứng Hóa Thiên Tôn", gật 9 lần, niệm 9 lần.
         - Dứt bài Thánh giáo lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi lần gật niệm "Nam mô Khổng Thánh Tiên Sư Hưng Nho Thạnh Thế Thiên Tôn", gật 9 lần, niệm 9 lần.
(Thi hành nghi tiết Đại đàn, Tiểu đàn của Đức Ngài Thượng Đầu Sư Thượng Trung Nhựt).
* Cách thức hiến lễ và an lập nghi Tam Bửu như sau:
Nghi Tam Bửu (Hoa, Rượu, Trà) đã có sẵn nơi bàn nghi thờ Chí Tôn, không nên đem xuống cho Lễ Sĩ dâng lên mà phải sắp phần hiến lễ riêng, nghĩa là Lễ Viện phải sắm cho đủ:
         - Môt bình bông nhỏ (lễ điêu).
         - Một dĩa trái cây nhỏ (lễ điêu).
         - Một ly rượu (khi hiến lễ rót 9 phân).
         - Một nhạo rượu.
         - Một chung trà (khi hiến lễ rót 8 phân).
         - Một bình trà.
Khi Lễ điện dâng hoa đến nội nghi quỳ xuống thì vị Chức Sắc chứng đàn tiếp bình hoa đưa lên trán nguyện, tất cả Chức Sắc, Chức Việc, Đạo Hữu cũng nguyện đồng nhất câu nguyện như sau:
         "Con xin dâng cả mảnh hình hài của con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng".
Khi dâng rượu thì nguyện như sau:
         "Con xin dâng cả trí thức tinh thần con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng".
Khi dâng trà thì nguyện như sau:
         "Con xin dâng cả linh hồn con cho Chí Tôn dùng phương nào thì dùng". Và nguyện tiếp "Cả linh hồn, cả trí não, cả hình hài con do Thầy đào tạo, đó là của Thầy thì do nơi quyền hành độc đoán Thầy định"
(Thi hành Chỉ Thị số 33/ĐS/TT đề ngày 26-6-Mậu Ngọ (30-7-1978) của Ngài Ngọc Đầu Sư).
Mỗi lần dâng Tam Bửu, Lễ Sĩ tiếp bửu đưa lên bửu điện, Lễ Viện an vị trên nghi thờ theo tinh thần Huấn Thị số 111/HĐCQ đề ngày 12-6-Tân Dậu (13-7-1981) của Ngài Bảo Đạo Hiệp Thiên Đài và Ngài Đầu Sư Cửu Trùng Đài, nguyên văn đoạn nầy như sau:
"Mỗi khi điện dâng Tam Bửu, mỗi bửu dâng lên phải đặt trước đèn Thái Cực (dưới long vị Tam Giáo, Tam Trấn, Ngũ Chi Đại Đạo) theo thứ tự trong ngó ra.
         - Bên trái: bông trước quả sau.
         - Chính giữa: rượu trước, nhạo sau.
         - Bên mặt: trà trước, bình sau       (xây vòi ra trước).
Lưu ý: Nơi Thánh Thất, Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu khi vào cúng không được ngồi hoặc đứng hầu hai bên".
(Thi hành Huấn Thị số 01/HT đề ngày 20-2-Đinh Mùi (30-3-1967) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài).
Khi bãi đàn, Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu đi ra, cách sắp đặt trật tự y như lúc nhập đàn, đi ngang qua bàn thờ Hộ Pháp không dừng lại xá, chỉ thủ lễ mà thôi.
(Thi hành Huấn Dụ số 03/HD đề ngày 27-2-Bính Ngọ (18-3-1966) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài).
* Nên đề nghị thêm: Chức Sắc, Chức Việc, Đạo Hữu bãi đàn đi ra đến bức ký tượng Tam Thánh cũng không nên dừng lại để xá hoặc lạy.
Để gìn giữ đèn cúng được trang nghiêm trật tự, mỗi Thánh Thất cần phải sắp đặt Chức Việc hầu tiến lễ tại Bàn nghi thờ Chí Tôn và Hộ Pháp để trông coi đèn nhang trà nước v.v... Đặc biệt là trong đàn cúng không nên đi tới lui qua lại mà thất lễ với các Đấng Thiêng Liêng.
Khi lập Đàn cúng, vị Chức Sắc nào được phân công đứng sớ chứng đàn thì vị đó quỳ trên, trước.
(Thi hành Huấn Thị số 01/HT đề ngày 20-2-Đinh Mùi (30-3-1967) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài).
Sau phần Ngũ Nguyện, chư vị quỳ cúng đứng dậy thì chư vị Chức Sắc, Chức Việc, Đạo Hữu già yếu, bịnh tật được vào bái lễ Chí Tôn theo sự sắp đặt của Ban trật tự đàn cúng, khi lạy không có cầu nguyện.
Hằng năm tại Thánh Thất, Điện Thờ có dộng u minh trong 3 kỳ Thượng nguơn, Trung nguơn, hạ nguơn. Cách thiết lễ dộng U Minh như sau:
Chư vị Chức Sắc hoặc Chức Việc Chánh Phó Cai Quản Thánh Thất sau khi cúng đàn mùng 1 tháng Giêng, tháng 7 và tháng 10, mặc thiên phục đến cầu nguyện nơi bửu điện Chí Tôn rồi mới đến khai U Minh có đọc kệ, sau mỗi câu kệ có dộng 1 tiếng chuông. Khi dứt 35 câu kệ mới giao lại cho vị khác và lần lượt thay phiên dộng U Minh cho đến hết thời gian quy định (từ Mùng 1 cho đến hết ngày Rằm).
II- NGHI LỄ TẠI ĐIỆN THỜ PHẬT MẪU ĐỊA PHƯƠNG
Cách lập Đàn: Chư thiện nam tín nữ đến chầu lễ Phật Mẫu nơi Điện thờ địa phương, gần đến giờ khởi lễ phải sắp hàng trước sân lễ. Đến giờ, Lễ Viện kệ chuông nhứt:
         "Văn chung khấu hướng huệ trưởng càn khôn.
         Pháp giái chúng sanh đồng đăng bỉ ngạn.
         Án Dà Ra Đế Dạ Ta Bà Ha".
Dứt mỗi câu dộng một tiếng chuông. Kệ chuông nhứt dứt thì tất cả sắp hàng tuần tự, tay bắt Ấn Tý để trước ngực đi vào đại điện phân làm 3 ban (phái nữ khi quỳ cúng căn giữa và căn bên hữu), nam phái quỳ cúng căn bên tả (trong ngó ra) đứng hầu, lễ xướng "Tịnh túc thị lập", tất cả đều lặng lẽ đứng trang nghiêm đặng khởi lễ, Lễ tiếp xướng "Chấp sự giả các tư kỳ sự", chư vị có trách nhiệm trong Đàn phải dự phòng lo phận sự, Lễ tiếp xướng "Cung thành thứ tự nam nữ nhập đàn". Lễ Viện khắc 3 tiếng chuông, tất cả xá Đàn bước vào vị trí, hướng vào ngôi thờ Phật Mẫu chờ Nhạc tấu huân thiên.
Cách bái lễ Phật Mẫu nơi Điện Thờ:
Xá 3 xá, quỳ xuống đưa tay lên trán xá cúi đầu lần nhứt niệm Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn, lần nhì niệm Nam mô Cửu Vị Nữ Phật, lần ba niệm Nam mô Bạch Vân Động Chư Thánh.
Khi đồng nhi tụng dứt bài kinh Niệm Hương, Phật Mẫu Chơn Kinh, Tam Bửu, Ngũ Nguyện đều lạy 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi lần gật niệm "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn". Khi dâng Tam Bửu cũng nguyện như tại Thánh Thất, nhưng thay vì cho Chí Tôn thì nơi Điện Thờ kể cho Phật Mẫu.
(Thi hành theo Tân Kinh).
Khi bãi đàn chư đồng đạo cũng phải tuần tự theo hàng đi ra như lúc nhập đàn, không tẻ hàng qua lại bái lễ nơi bàn thờ Tả Ban, Hữu Ban. Muốn bái lễ những nơi nầy thì phải chờ mọi người ra hết rồi trở vào bái lễ, cho khỏi trở ngại.
---
Thường ngày, sau những thời cúng nơi Điện Thờ Phật Mẫu, chư đồng đạo có tụng kinh Di Lạc, kinh Cứu khổ để cầu nguyện cho chúng sanh và các chơn linh quá vãng v.v... Mặc dù sau mỗi bài kinh có tụng câu chú của Thầy là "Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát" tụng 3 lần nhưng khi lạy Phật Mẫu thì phải niệm "Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn".
- Căn cứ lời phê của Đức Hộ Pháp năm Tân Mão (1951), nơi Điện Thờ Phật Mẫu địa phương không được tổ chức lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. Nguyên văn lời phê như sau:
"Hội Yến Diêu Trì Cung là lễ đặc biệt Hiệp Thiên Đài chủ quyền và chỉ làm tại Đền Thờ Phật Mẫu tại Tòa Thánh mà thôi; không nơi nào có phép làm lễ ấy, nếu sái lịnh sẽ bị trừng phạt một cách nghiêm khắc". HỘ PHÁP (ấn ký).
III- CÁCH LẬP THIÊN BÀN THỜ ĐỨC CHÍ TÔN TẠI TƯ GIA
1- Thánh Tượng Thiên Nhãn (mẫu do Hội Thánh ấn hành).
2- Đèn Thái Cực.
3- Trái cây.
4- Bình bông.
5- Nước trà (để bên hữu ấy là âm)
6-7-8- Ba ly rượu.
9- Nước trắng (để bên tả ấy là dương).
10-12- Cặp đèn (lưỡng nghi).
11- Lư hương (cắm 5 cây hương khi cúng).
Chuông mõ để nơi bàn kinh, trên bàn kinh không có lư hương, trà nước, bông trái v.v...
Trên bàn thờ Chí Tôn cũng như bàn kinh không thờ hình ảnh các vị tiền bối hoặc những hình ảnh khác.
Những hình ảnh lưu niệm của các Đấng tiền bối được treo ở những nơi tinh khiết khác.
Nơi Thiên Bàn thường ngày đốt một ngọn đèn Thái Cực bằng dầu, không nên để tắt, không sử dụng đèn điện, đèn chớp làm mất vẻ trang nghiêm nơi tôn kính.
(Thi hành Thông Tri số 001/TT ngày 26-10-Đinh Tỵ (6-12-1977) của Hội Thánh Cửu Trùng Đài).
- Nơi tư gia được tứ thời Tỵ, Ngọ, Mẹo, Dậu cúng như ở Thánh Thất. Các thời ấy phải cúng đúng giờ như:
         + Thời Tý cúng đúng 12 giờ khuya (0 giờ)
         + Thời Ngọ cúng đúng 12 giờ trưa (Ngọ)
         + Thời Mẹo cúng đúng 06 giờ sáng
         + Thời Dậu cúng đúng 06 giờ chiều.
(Thi hành Thông Tri số 12/TT ngày 11-5-Ất Mão (20-6-1975).
Cúng thời Mẹo Dậu dâng trà (rót 8 phân)
Cúng thời Tý Ngọ dâng rượu (rót 3 phân)
Ngoài ra khi nào tại tư gia hữu sự có thượng sớ mới lập đủ nghi Tam Bửu như Thánh Thất.
Người đạo muốn thờ Chí Tôn phải trình cho Chức Sắc Cai Quản nơi mình ở để hướng dẫn cách thức thờ phượng và thiết lễ Thượng Tượng. Vị Chức Sắc ấy phải đến khai đàn thượng tượng tại tư gia người đạo khi lập Thiên Bàn, Thượng Tượng có thượng sớ, Thượng Tượng có dâng Tam Bửu.
Sau đàn có tụng Di Lạc Chơn Kinh và Kinh Cứu Khổ để cầu nguyện cho cả chúng sanh. Một đoạn Kinh Cứu Khổ có ghi "Ngũ Bá A La Hớn cứu hộ đệ tử..." thì đọc lại "Ngũ Bá A La Hớn cứu cả chúng sanh thoát ly khổ nạn" (bỏ chữ đệ tử).
Trên đây là những phần đã được hội nghị toàn Ban Nghi lễ nhất trí, kính đệ trình lên Hội Đồng đưa ra hội nghị các Cai Quản và Chức Sắc đóng góp ý kiến để cho việc thờ cúng nơi địa phương được thi hành đồng nhất.
Ngoài ra còn một số vấn đề Ban Nghiên cứu xét thấy vượt qua chức năng. Toàn Ban nhất trí đệ trình ra đây để Hội Đồng và hội nghị Chức Sắc giải quyết.
         1- Nơi Thánh Thất địa phương có lầu chuông trống, lầu Hiệp Thiên Đài có được lập nghi thờ Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh, Thập Nhị Thời Quân và Đức Quyền Giáo Tông như ở Tòa Thánh hay không?
         2- Trong những Đàn Tam Nguơn hằng năm nơi Thánh Thất, Điện Thờ địa phương có treo phướn kể từ ngày mùng 1 đầu tháng Giêng, tháng 7 và tháng 10 cho đến hết ngày Rằm, nhưng tại Tòa Thánh và Đền Thờ Phật Mẫu Trung ương thì treo ngày 14 và 15 mà thôi. Xin thống nhứt về thời gian treo Phướn.
         3- Thiên Nhãn trước Thánh Thất địa phương có được phép đắp y như Thiên Nhãn ở mặt tiền Tòa Thánh hay không? (Thiên Nhãn mặt tiền Tòa Thánh có 36 tia hào quang và con mắt không phải không trái). Hiện nay phần đông các Thánh Thất đắp Thiên Nhãn phía trước có 16 tia hào quang chung quanh.
         4- Nơi trên Cổ Pháp Tam Giáo có gắn 3 vòng đèn ống tròn ba màu (vàng chính giữa, xanh phải, đỏ trái), nó có ý nghĩa như thế nào và gắn như vậy là do ý riêng của một số người hay do Hội Đồng đề xuất? Vì những bóng đèn nầy đã tạo ra những dư luận không hay trong bổn đạo. Đề nghị Hội Đồng xem lại.
         5- Xin Hội Đồng nhắc lại cho Chức Sắc, Chức Việc và Đạo Hữu trong đàn cúng, lúc Hiệp Thiên Đài nhập nội nghi, một số vì mỏi nên ngồi chống chân, co duỗi, nghiêng ngã xả ấn v.v... đồng thời trước khi nhập đàn, Chức Sắc, Chức Việc đã mặc thiên phục mà còn hút thuốc làm mất phần mỹ quan của vị Thiên Phong.
Trân trọng kính trình Hội Đồng thẩm định./.
Nay kính,

Tòa Thánh, ngày 28 tháng 11 năm Canh Ngọ
(13-01-1991)
Trưởng Ban
(ký tên)
Cãi Trạng LÊ MINH KHUYÊN
Chức Sắc Hội Viên:

- Giáo Hữu NGỌC HƯƠNG THANH (ký tên)
- Chí Thiện VÕ THỊ HOÀNH (ký tên)
- Giáo Hữu THÁI SÁU THANH (ký tên)
- Giáo Hữu THƯỢNG LÝ THANH
- Giáo Hữu NGỌC THƯỞNG THANH (ký tên)

- Lễ Sanh NGỌC HỒNG THANH (ký tên)
- Giáo Thiện NGUYỄN VĂN KÝ (ký tên)
- Giáo Thiện BÙI VĂN KIẾT

(ký tên)
- Giáo Thiện LÊ THỊ NHẠN
- Thính Thiện NGUYỄN MINH NGUYỆT (ký tên)











ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
BAN NGHIÊN CỨU
THỰC HÀNH NGHI LỄ ĐẠO
Số: 03/PT.
PHÚC TRÌNH
Kính dâng HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
TRÍCH YẾU:- V/v nghi tiết thực hành tang lễ đạo.
Kính Hội Đồng,
Tiếp theo các phúc trình số 01, 02, Ban Nghiên cứu Thực hành Nghi lễ Đạo đã tiếp tục thảo luận thêm một số đề tài về tang lễ và các nghi lễ khác trong đạo, xin được đưa ra hội nghị biểu quyết để trong đạo được thực hiện đồng nhất.

1)- Về Tuần Cửu:
Tại Tòa Thánh hiện nay hành lễ tuần cửu cho Chức Việc, Đạo Hữu bên ngoài thuộc các giáo phận, vì vậy mà chư bổn đạo không làm tuần cửu cho người quá cố nơi Thánh Thất sở tại. Xin đề nghị tại Tòa Thánh nên làm tuần cửu cho Chức Sắc từ phẩm Lễ Sanh và các phẩm tương đương trở lên, chư Chức Việc và Công quả hiện cư ngụ trong Nội Ô Tòa Thánh, còn Chức Việc và Bổn Đạo có thường trú nơi các giáo phận thì nên về địa phương hành lễ.
2)- Sớ tuần cửu:
Sớ tuần cửu tại Tòa Thánh và Thánh Thất địa phương chung cùng một mẫu, nhưng mỗi nơi điền vào các khoảng trống không giống nhau:
Thí dụ: Tại Tòa Thánh tuần cửu của vị Giáo Sư Lưu-Hương-Trong, vị viết sớ điền như sau: Cung vi: Nhị cửu chi tuần. Giáo Sư tánh, Lưu-Hương-Trong niên canh, Bát thập nhị tuế...
Tại địa phương thì viết: Nhị cửu chi tuần Lễ Sanh Thượng X Thanh tánh, Bính Ngọ niên canh, Bát thập lục tuế...
Kính đề nghị đồng nhất.
3)- Phần đọc Sớ văn:
Tại Tòa Thánh thì vị đọc Sớ đọc sớ tuần cửu hằng ngày như sau: Cung vi Nhị cửu chi tuần Phó Trị Sự Nguyễn Văn Y, ...... niên canh, Thất thập nhị tuế...
Thay vì đọc: Nhị cửu chi tuần Phó Trị Sự Nguyễn Văn X tánh, ...... niên canh, Thất thập nhị tuế...
4)- Đọc kinh tuần cửu:
Tại Tòa Thánh đồng nhi đọc 1 hiệp, nhưng trong kinh có quy định nói kinh tuần cửu phải đọc 3 hiệp. Hiện nay các địa phương đều đọc 3 hiệp. Xin được đồng nhất.
5)- Tẩn liệm:
Việc tẩn liệm người quá cố được thi hành theo sự chỉ dẫn trong quyển Tang Lễ của Hội Thánh ban hành năm Ất Mão (1975), nhưng việc tẩn liệm miễn việc gút thi hài người chết, để tự nhiên ém gòn, vải cho chặt mà thôi.
6)- Bài kinh tụng Huynh đệ mãn phần dành cho anh chị em ruột cùng cha mẹ, không đọc cho những thành phần khác trong gia đình.
7)- Trước khi thiết lễ phụ tế cho người quá cố, đại diện Hội Thánh, Hội Đồng Chưởng Quản, Chức Sắc hoặc Chức Việc có đến trước để niệm hương (phần nầy chỉ đại diện mà thôi), Ban Tổ chức tang lễ chỉ nên đưa hương cho hàng đầu, các hàng kế cận được miễn.
8)- Nhập môn tại Tòa Thánh: Tại Tòa Thánh chỉ được làm lễ nhập môn cho khách vãng lai mộ đạo tự nguyện xin cầu đạo, không nên cho con em nhà đạo hiện đang cư trú nơi các giáo phận (Châu Thành Thánh Địa). Nếu con em của đạo có vào xin nhập môn, Ban Nghi Lễ nên hướng dẫn (chỉ dẫn) về nơi Thánh Thất sở tại để tránh những sơ suất có thể xảy ra.
Trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo Hội Thánh đã ấn hành nhiều đợt, mỗi đợt in đều có những chữ sai không giống nhau. Xin được điều chỉnh những chữ sai ấy cho được đồng nhất.
1)- Hành lễ cho nhơn viên Ban Đạo Tỳ:
Chiếu theo bản điều lệ, nội quy của Cơ quan Thuyền Bát Nhã Trung ương được Hội Thánh ban hành có quy định điều khoản ân thưởng phần nghi lễ cúng tế cho nhơn viên Ban Đạo Tỳ Trung ương và địa phương theo hàng phẩm tương đương Lễ Sanh khi vị ấy có công nghiệp hành sự liên tục 10 năm trở lên.
Phần ân tứ nầy đã tạo nhiều dư luận đối với các cơ quan khác.
Hiện nay việc làm nơi địa phương của Ban Đạo Tỳ phải có những quy định về hạnh đạo, trai giới, tinh thần phục vụ v.v... để khi lâm chung hưởng được ân huệ mà Hội Thánh đã ban cho thì nghi lễ nầy mới được trân trọng, bằng chẳng vậy thì tự mình xem nhẹ giá trị thiêng liêng của Đạo.
Phần nghiên cứu nghi lễ đạo đến đây chấm dứt. Trân trọng kính trình lên Hội Đồng cứu xét.
Tòa Thánh, ngày 18 tháng 3 năm Tân Mùi

(2-4-1991)

Thư Ký
(ký tên)
Lễ Sanh NGỌC HỒNG THANH

Trưởng Ban
(ký tên)

Cãi Trạng LÊ MINH KHUYÊN

Phó Trưởng Ban
(ký tên)

Giáo Hữu NGỌC HƯƠNG THANH

 

THÀNH PHẦN BAN NGHIÊN CỨU THỰC HÀNH NGHI LỄ ĐẠO

- Giáo Hữu THÁI SÁU THANH 
(ký tên)
- Giáo Hữu THƯỢNG LÝ THANH
- Giáo Hữu NGỌC THƯỞNG THANH (ký tên)

- Chí Thiện VÕ THỊ HOÀNH (ký tên)

- Giáo Thiện NGUYỄN VĂN KÝ (ký tên)
- Giáo Thiện BÙI VĂN KIẾT (ký tên)
- Giáo Thiện LÊ THỊ NHẠN (ký tên)

- Thính Thiện NGUYỄN MINH NGUYỆT (ký tên)



CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
ĐƠN XIN PHỤC HỒI SỰ THỜ CÚNG TẠI THÁNH THẤT CAO ĐÀI
KÍNH GỬI: ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI - ĐƠN VỊ TỈNH THUẬN HẢI.
Chúng tôi là Chức Sắc HỘI THÁNH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH, có nhận được báo cáo của bổn đạo tại thị xã Phan Rang Tháp Chàm, thỉnh nguyện sự khôi phục việc thờ cúng tại các Thánh Thất MỸ AN và BÒN BON mà hiện nay chánh quyền còn đóng cửa.
Kính thưa QUÝ ÔNG,
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh khai sáng từ năm 1926 do Đức CAO ĐÀI THƯỢNG ĐẾ dùng huyền diệu cơ bút giáng trần lập Đạo, với tôn chỉ Qui nguyên tam giáo, hợp nhất ngũ chi, kế thừa tinh hoa giáo lý các tôn giáo mang tính dân tộc đậm đà, nhằm mục đích giáo dân quy nghiệp, cải ác tùng lương, khôi phục tinh hoa đạo lý dân tộc và giải thoát cho con người khỏi kiếp luân hồi sinh tử, nhập cảnh siêu phàm.
Trải qua 66 năm hoằng khai mối Đạo trong bối cảnh lịch sử đất nước Việt Nam bị chiến tranh kéo dài, nền đạo được phổ biến ở các miền đất nước và truyền bá ra nước ngoài, nhiều ngôi thánh thất được xây dựng khắp miền Nam để chúng sanh có nơi sùng bái và tu hành.
Mặt khác do âm mưu chia rẽ để thống trị của các thế lực ngoại xâm, một bộ phận của tôn giáo Cao Đài bị ảnh hưởng sự chi phối đó, gây tổn thương cho khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Kịp đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, HỘI THÁNH chúng tôi đã kịp thời ban hành Thông Tri số 01/TT phê phán những sai trái trong đạo và điều chỉnh đường lối hành đạo thật sự gắn bó với dân tộc, với chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được toàn thể chức sắc, chức việc và tín đồ nam nữ trên cả nước đồng tình hưởng ứng, đã góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đường lối tích cực của đạo, vẫn còn có một số kẻ xấu lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng, chánh quyền phải có biện pháp xử lý nghiêm minh. Do đó có một số thánh thất đạo Cao Đài tạm thời bị đóng của trong khoản thập niên 1980 đến nay.
Từ khi có Nghị quyết 6 của Ban Chấp hành Trung ương ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, cuộc diện Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh hoàn toàn đổi mới theo hướng tích cực, toàn đạo đã chấp hành tốt các chánh sách chủ trương và pháp luật của Đảng và Nhà nước. Hầu hết các tỉnh phía Nam chánh quyền đã cho phép đạo phục hồi sự thờ cúng ở nhiều ngôi thánh thất và điện thờ, làm phấn chấn lòng dân có đạo hướng về chánh nghĩa cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, riêng tại tỉnh Thuận Hải còn một số thánh thất vẫn chưa được chánh quyền cho phép phục hồi sự thờ cúng như xưa.
Đó là những tâm tư nguyện vọng chân thành và bức xúc về quyền tự do tín ngưỡng của người dân theo đạo Cao Đài tại các địa phương.
Kính thưa QUÝ ÔNG,
Để thiết thực hội nhập vào sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của đất nước, chúng tôi xin chân thành yêu cầu ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI can thiệp với chánh quyền các cấp trong tỉnh Thuận Hải cho phép đạo Cao Đài được phục hồi việc thờ cúng tại các thánh thất hiện còn bị đóng cửa. Riêng những đồ thờ cúng bên trong thánh thất nơi nào có bị thất lạc, chúng tôi sẽ tự tạo lấy.
Vì chánh sách đoàn kết đạo đời quang minh của Đảng và Nhà nước, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân có đạo, chúng tôi rất mong sự quan tâm có hiệu lực của ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI đối với sự nghiệp tu hành tại địa phương của toàn đạo chúng tôi.
Kính chúc phước lành QUÝ ÔNG ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI đầy đủ sức khỏe, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ nhân dân giao cho./.

BẢN SAO KÍNH TƯỜNG:
- Ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thuận Hải.
- Ông Chủ tịch UBND tỉnh Thuận Hải.
- Ông Chủ tịch UB.MTTQ tỉnh
Thuận Hải.

- Bản lưu.

TÒA THÁNH, ngày 8 tháng 4 năm 1991
TM/ HỘI THÁNH ĐĐTKPĐ
Thừa Sử Hiệp Thiên Đài
(ký tên)
TRƯƠNG NGỌC ANH


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
TÒA THÁNH TÂY NINH
ĐƠN XIN TIẾP TỤC XÂY CẤT HOÀN CHỈNH NGÔI THÁNH THẤT THỊ TRẤN BẾN LỨC
KÍNH GỬI: ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI -ĐƠN VỊ TỈNH LONG AN-
Chúng tôi là Chức Sắc HỘI THÁNH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH, có nhận được báo cáo của bổn đạo thị trấn huyện Bến Lức, tỉnh Long An, thỉnh nguyện việc khôi phục công trình xây dựng ngôi thánh thất Cao Đài tại thị trấn Bến Lức hiện còn dở dang, chánh quyền địa phương đã có quyết định ra lệnh tạm ngưng xây dựng.
Kính thưa QUÝ ÔNG,
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh khai sáng từ năm 1926 do Đức CAO ĐÀI THƯỢNG ĐẾ dùng huyền diệu cơ bút giáng trần lập Đạo, với tôn chỉ Qui nguyên tam giáo, hợp nhất ngũ chi, kế thừa tinh hoa giáo lý các tôn giáo mang tính dân tộc đậm đà, nhằm mục đích giáo dân qui nghiệp, cải ác tùng lương, khôi phục tinh hoa đạo lý dân tộc và giải thoát cho con người khỏi kiếp luân hồi sinh tử, nhập cảnh siêu phàm.
Trải qua 66 năm hoằng khai mối Đạo trong bối cảnh lịch sử đất nước Việt Nam bị chiến tranh kéo dài, nền đạo được phổ biến ở các miền đất nước và truyền bá ra nước ngoài, nhiều ngôi thánh thất được xây dựng khắp miền Nam để chúng sanh có nơi sùng bái và tu hành.
Mặt khác do âm mưu chia rẽ để thống trị của các thế lực ngoại xâm, một bộ phận của tôn giáo Cao Đài bị ảnh hưởng sự chi phối đó, gây tổn thương cho khối đại đoàn kết toàn dân trong sự nghiệp giải phóng dân tộc.
Kịp đến ngày giải phóng miền Nam thống nhất nước nhà, HỘI THÁNH chúng tôi đã kịp thời ban hành Thông Tri số 01/TT phê phán những sai trái trong đạo và điều chỉnh đường lối hành đạo thật sự gắn bó với dân tộc, với chủ nghĩa xã hội do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, được toàn thể chức sắc, chức việc và tín đồ nam nữ trên cả nước đồng tình hưởng ứng, đã góp phần thiết thực vào sự nghiệp phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đường lối tích cực của đạo, vẫn còn có một số kẻ xấu lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng, chánh quyền phải có biện pháp xử lý nghiêm minh. Do đó có một số thánh thất đạo Cao Đài tạm thời bị đóng của trong khoản thập niên 1980 đến nay.
Từ khi có Nghị quyết 6 của Ban Chấp hành Trung ương ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM, cuộc diện Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh hoàn toàn đổi mới theo hướng tích cực, toàn đạo đã chấp hành tốt các chánh sách chủ trương và pháp luật của Đảng và Nhà nước. Hầu hết các tỉnh phía Nam chánh quyền đã cho phép đạo phục hồi sự thờ cúng ở nhiều ngôi thánh thất và điện thờ, làm phấn chấn lòng dân có đạo hướng về chánh nghĩa cách mạng Việt Nam.
Hiện nay, việc xây dựng ngôi thánh thất tại thị trấn Bến Lức còn đang dở dang, vẫn chưa được chánh quyền địa phương chánh thức cho phép xây dựng hoàn chỉnh.
Đó là những tâm tư nguyện vọng chân thành và bức xúc về quyền tự do tín ngưỡng của người dân theo đạo Cao Đài tại các địa phương.
Kính thưa QUÝ ÔNG,
Để thiết thực hội nhập vào sự nghiệp đổi mới của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới của đất nước, chúng tôi xin chân thành yêu cầu ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI can thiệp với chánh quyền các cấp trong tỉnh Long An, huyện Bến Lức, cho phép bổn đạo chúng tôi được tiếp tục xây dựng hoàn chỉnh ngôi thánh thất, ngõ hầu góp phần làm phong quang cảnh trí Thị trấn Bến Lức, một bộ mặt văn hóa mới nằm trên quốc lộ cửa ngõ vào Thành phố Hồ Chí Minh rạng rỡ.
Vì chánh sách đoàn kết đạo đời quang minh của Đảng và Nhà nước, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng cho nhân dân có đạo, chúng tôi rất mong sự quan tâm có hiệu lực của ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI đối với sự nghiệp tu hành tại địa phương của toàn đạo chúng tôi.
Kính chúc phước lành QUÝ ÔNG ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI đầy đủ sức khỏe, hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ nhân dân giao cho./.

BẢN SAO KÍNH TƯỜNG:
- Ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Long An.
- Ông Chủ tịch UBND tỉnh Long An.
- Ông Chủ tịch UB.MTTQ tỉnh Long An.

- Bản lưu.

TÒA THÁNH, ngày 8 tháng 4 năm 1991
TM/ HỘI THÁNH ĐĐTKPĐ
Thừa Sử Hiệp Thiên Đài
(ký tên)
TRƯƠNG NGỌC ANH

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
BAN NGHIÊN CỨU
NGHI LỄ ĐẠO
Số: 04/PT
PHÚC TRÌNH
Kính dâng HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
Trích yếu: - V/v Xin triệu tập phiên họp Ban Cai Quản Thánh Thất, Điện Thờ để giải quyết về Nghi Lễ Đạo.
Kính Hội Đồng,
Để giải quyết dứt điểm phần Nghi Lễ Đạo, Ban Nghiên cứu Nghi Lễ trân trọng kính trình lên Hội Đồng Chưởng Quản cho triệu tập một phiên họp bất thường giữa Hội Đồng, các cơ quan Nghi Lễ và Ban Cai Quản Thánh Thất, Điện Thờ địa phương, tiếp tục thảo luận các vấn đề còn lại đã nêu trong phúc trình số 03/PT, đồng thời quy định và biểu quyết rõ ràng để bổ sung cho phần nghi lễ cúng tại Thánh Thất và Điện Thờ, phần dâng Tam Bửu theo chỉ thị số 111/HĐCQ của Hội Đồng Chưởng Quản nhiệm kỳ một.
Riêng về phần quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Ban Nghiên cứu cũng đã trình lên Hội Đồng quyết định thành lập Ban Kiểm Duyệt để chỉnh lại những chữ sai của các lần ấn hành Tân Kinh.
Ngoài ra, trong phiên họp còn phải thảo luận nhiều hơn về một số vấn đề khác có liên quan đến phần nghi tiết thực hiện tang lễ.
Nay kính,
Tòa Thánh, ngày 8 tháng 3 năm Tân Mùi
(23-4-1991)
TM. BAN NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN NGHI LỄ
Trưởng Ban
(ký tên)
Cãi Trạng LÊ MINH KHUYÊN


ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
Văn Phòng
Số: 83/66-HĐCQ-HL
HỘI THÁNH CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH
HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
Chiếu y Tân Luật và Pháp Chánh Truyền;
Căn cứ Nghị quyết 297/CP ngày 11-11-1977 của Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về chính sách đối với các Tôn giáo;
Căn cứ Đạo Lịnh số 01/HT-ĐL ngày 4 tháng 2 Kỷ Mùi (1-3-1979) của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ quy định chức năng và nhiệm vụ của Hội Trưởng Hội Đồng Chưởng Quản;
Căn cứ Đại hội Hội Thánh ngày 21 tháng 4 Kỷ Tỵ (25-5-1989) công bố thành phần Hội Đồng Quản Lý đã được UBND tỉnh Tây Ninh công nhận tại công văn số 195/CV-UB ngày 24-9-1989;
- Căn cứ Quyết định số 88/QĐ-UB ngày 14-9-1989 của UBND tỉnh Tây Ninh cho đổi tên "Hội Đồng Quản Lý Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh" thành "Hội Đồng Chưởng Quản của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ Tòa Thánh Tây Ninh";
Căn cứ phiên họp biên bản số 18/66-HĐCQ-BB ngày 26 tháng 3 Tân Mùi (10-5-1991) Hội Đồng Chưởng Quản quyết nghị thành lập Ban Soạn thảo điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử và giáo trình mở lớp Giáo Lý;
Căn cứ phiên họp biên bản số 21/66-HĐCQ-BB ngày 9 tháng 4 Tân Mùi (22-5-1991) quy định thành viên Ban Soạn thảo điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử và giáo trình mở lớp Giáo Lý; Nên:
HUẤN LỊNH
ĐIỀU THỨ NHỨT: - Nay thành lập Ban Soạn thảo điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử và giáo trình mở lớp Giáo Lý, thành phần như sau:
        Trưởng Ban:         Phối Sư THƯỢNG NHÃ THANH
        Phó Trưởng Ban: Cãi Trạng LÊ MINH KHUYÊN
        Hội Viên:             Giáo Sư NGỌC TẤN THANH
        Hội Viên:             Giáo Sư HUỲNH HƯƠNG NHIỀU
        Hội Viên:             Chơn Nhơn VÕ PHÁT TÂN
        Hội Viên:             Chơn Nhơn TẠ THỊ THẾ
        Hội Viên:             Giáo Hữu VÕ HƯƠNG NHIỀU
        Hội Viên:             Chí Thiện PHAN TRỌNG CHẨM
        Thư Ký:                Giáo Hữu THÁI LỆ THANH
ĐIỀU THỨ NHÌ: - Quý vị trong Ban Soạn thảo điều lệ cầu phong, cầu thăng theo luật công cử và giáo trình mở lớp Giáo Lý trên đây phải tùng lịnh Hội Đồng Chưởng Quản mà thi hành cho tròn nhiệm vụ.
ĐIỀU THỨ BA: - Vị Từ Hàn Hội Đồng Chưởng Quản và quý vị Chức Sắc có danh sách trên đây tùy nhiệm vụ ban hành và thi hành Huấn Lịnh nầy.
TÒA THÁNH, ngày 16 tháng 4 Tân Mùi
(29-5-1991)
TM. HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
HỘI TRƯỞNG
(ký tên, đóng dấu)
Phối Sư THƯỢNG THƠ THANH
VÂNG LỊNH BAN HÀNH
TÒA THÁNH, ngày 17 tháng 4 Tân Mùi
(30-5-1991)
TỪ HÀN HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
(ký tên)
Giáo Sư THƯỢNG TÁM THANH

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH

KHÁI NIỆM THƠ
Kính Gởi: Quý Chức Sắc Đương kiêm tay Quyền HỘI THÁNH, Lãnh đạo nền ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH.
Kính quý Huynh, Tỷ,
Tiện Minh, TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN NGUYỄN VĂN HỢI, 81 tuổi, cảm nghĩ cần đóng góp.
Ý kiến xây dựng chung cho nghiệp Đạo, nên kính trình ý niệm khái quát về quy mô tổ chức ĐẠO Quyền hiện tại như sau:
Nghĩ vì từ khi Nước nhà được giải phóng, chuyển sang Xã Hội Chủ Nghĩa, Nền Đạo trong Nước đương nhiên biến hình theo ý thức hệ.
Buổi ban sơ toàn Đạo cũng như cấp Lãnh Đạo Tôn Giáo chúng ta không am tường chính sách mới, dĩ nhiên bước Hành Đạo cũng có nhiều thay đổi, không phù hợp với Chánh quyền Cách mạng và gây xao xuyến trong Đạo Giới.
Tính đến hôm nay, trải qua 16 năm trường vẫn chưa ổn định tình hình nội bộ của Đạo, cần chỉnh đốn kịp thời mà không trái với tiến trình Lãnh Đạo Tổ Quốc và không làm sai biệt Chơn Truyền Nền Chánh Giáo, gây lại niềm tin, tuy rằng là tương đối, nhưng cũng có thể vững an con Thuyền Đạo, để cùng tiến theo trào lưu vận Nước.
Luôn luôn từ buổi Khai Đạo đến nay, trong cửa Đạo thường xảy ra những thay đổi đột ngột, bất thường, đó là bài học thử thách Hàng Giáo Phẩm Thiên Phong Chức Sắc, có giữ đặng chơn tướng của Đạo hay không?
Mọi sự việc dở hay chập chùng bước Đạo, bởi nhiều nguyên nhân, xin phú cho lịch sử và thời gian phê phán, bây giờ chúng ta là Đàn Em chưa thấy ai đứng bực vào hàng Lãnh Đạo, chỉ biết chung tâm hiệp lực, nhiều cái dở trở thành cái hay, cũng nhờ đó mà bảo trì được sự nghiệp tiền nhân để lại.
ĐẠO LỊNH số 01/ĐL ra đời, thay đổi hầu hết Chánh Thể Nền ĐẠI ĐẠO, đây là quyền nghi có tánh cách giai đoạn mặc dù trong đó còn giữ phần tinh túy của Pháp Chánh Truyền, là còn lại Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài, là nền Lập Pháp phân quyền để tránh nạn độc tài mà con cái CHÍ TÔN phải gánh chịu bất công!
Nay Tiện Minh được hiểu Quý Huynh, Tỷ chủ ý góp phần gầy lại, dựng lại từng bước, nào là xin mở lại Khóa Huấn Luyện Hạnh Đường, và việc Cầu Thăng, Cầu Phong cho Chức Sắc hữu công!
Tiện Minh thấy đó là điều đáng mừng, nhưng muốn tiến tới cũng sẽ là gay go thể theo hình thái hiện tại.
Chiếu theo Pháp Chánh Truyền thì trong Đạo có hai vị Lãnh Đạo tối cao là GIÁO TÔNG và HỘ PHÁP Chưởng Quản Lưỡng Đài mới có Quyền thay mặt Thiêng Liêng Ban Phong Chức Sắc. Chỉ như hiện nay Chức Sắc cao cấp đã quy vị hết rồi, còn lại phần Trung cấp nhưng cũng chẳng mấy người, mà muốn làm việc thay quyền tối cao ít nào chúng ta cũng phải tổ chức hình thức thay quyền cho phù hợp với Chơn truyền mới đi đến thành tựu mong muốn thượng hành hạ hiệu.
Phát xuất từ nguyên lý đó; Tiện Minh đề nghị với Huynh, Tỷ. Chỉnh đốn lại cơ cấu Đạo Quyền cho có danh chánh ngôn thuận, phù hợp với Chơn Truyền Đạo Pháp. Chúng ta cần lưu ý rằng: ĐẠO CAO ĐÀI không có HỘI THÁNH DUY NHẤT như bên Thiên Chúa Giáo, mà phải là HỘI THÁNH Lưỡng Đài là thể chế phân quyền CHÍ TÔN đã định vậy.
Hiện tại chúng ta không thể thành lập Hội Thánh như trước, mà cần thu gom lại gọi là HỘI THÁNH THƯỜNG TRỰC thay thế HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN.
Trong HỘI THÁNH THƯỜNG TRỰC phải có 3 Chánh Phối Sư: Gồm 3 Phái như Pháp Chánh Truyền đã dạy, một thành 3, mà 3 như một, trong đó:
         + 1 NGỌC CHÁNH PHỐI SƯ, Chủ Trưởng Chức Sắc.
         + 1 THƯỢNG CHÁNH PHỐI SƯ, Chủ Tọa Hội Nhơn Sanh Đại diện Nhơn Sanh từ phẩm Lễ Sanh sắp xuống.
         + 1 THÁI CHÁNH PHỐI SƯ, Chủ Tọa HỘI THÁNH thay mặt HỘI THÁNH từ phẩm Giáo Hữu trở lên.
         + 1 NỮ CHÁNH PHỐI SƯ, Chủ Trưởng Chức Sắc Nữ Phái.
         + 2 Chức Sắc PHƯỚC THIỆN, 1 nam, 1 nữ làm Chánh Phó Chủ Trưởng Chức Sắc Phước Thiện.
Ngoài ra còn thâu dụng một số Chức Sắc có khả năng điều hành văn phòng.
Bên Hiệp Thiên Đài sẽ chỉnh đốn lại phụ giúp HỘI THÁNH THƯỜNG TRỰC Chấp Chưởng Đạo Quyền (Pháp Chánh Truyền có câu: "Hễ Đạo còn thì HIỆP THIÊN ĐÀI vẫn còn"). Hội Đồng Chưởng Quản trước kia còn mang tính chất Lưỡng Đài, nhờ có Ngài BẢO ĐẠO và Ngài NGỌC ĐẦU SƯ, còn như Hội Đồng Chưởng Quản hiện tại là Hội Đồng Quản Lý cải danh thành hình qua cuộc bầu cử nhiều tranh luận nếu duy trì đến chừng nào cũng khó đi vào nguyên tắc Pháp lý, làm sao lấy đặng uy tín toàn Đạo.
Nhìn vào nhơn sự nội bộ, Chức Sắc đã già yếu hết rồi, đi cúng còn phải có người dìu dẫn, trí não lờ lệch, cần trao lại cho Hàng Phẩm Trung Niên lãnh phần gánh vác. Như Đại Huynh PHỐI SƯ THƯỢNG THƠ THANH cũng rất cao niên, thêm hay bệnh hoạn, Ngài chỉ vì Đạo mà ra gánh vác chớ nào phải tham quyền cố vị gì đâu, đã gọi rằng làm Đạo là xả thân làm công quả chớ quyền lợi danh vọng gì! Đôi khi còn phải mang tiếng thị phi mỉa mai là khác.
Về phần Chánh quyền Cách mạng đang trên đà đổi mới, Chánh quyền đã thấy rõ sự bấp bênh trong nội bộ chúng ta. Chánh quyền ắt cũng đang chờ chúng ta ổn định thì lẽ nào Chánh quyền hẹp lượng mà không giúp gì cho chúng ta để Nền Đạo trong Tỉnh Nhà sớm ổn định để Đạo Đời được tương liên góp công xây dựng Đất Nước.
Tiện Minh mong rằng ngày ấy sớm đến với Đạo chúng ta, dầu phải sức mỏn thân tàn cũng chung góp khả năng kinh nghiệm gầy dựng lại sự nghiệp ĐẠO cho Đàn Em tiếp nối, trước khi chúng ta nhắm mắt lìa đời./-
Thân chào Quý Huynh, Tỷ.
Tòa Thánh, ngày 4 tháng 5 Tân Mùi
(15-6-1991)
TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN
(ký tên)
NGUYỄN VĂN HỢI

ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập lục niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH
THÁNH THẤT THỊ TRẤN
Hòa Thành
Số: 07/66-PT.
PHÚC TRÌNH
BAN CAI QUẢN THÁNH THẤT THỊ TRẤN HÒA THÀNH
Kính gởi: Hội Đồng Chưởng Quản của Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.
Kính thưa Hội Đồng Chưởng Quản,
Có nhiều việc thắc mắc ở Chức Việc và Đồng Đạo thỉnh giáo Ban Cai Quản, chúng tôi xét những việc nầy nó có ảnh hưởng liên quan đến quý vị Cai Quản các Thánh Thất trong Giáo phận huyện Hòa Thành, nên Ban Cai Quản chúng tôi không thể đơn phương giải thích cho thỏa đáng được, nên kính trình lên Hội Đồng xin đưa ra cuộc họp thường lệ để nhờ phần đông giải quyết.
* Khoản thứ Nhứt: - Có nên để cho phái nữ dộng chuông U Minh hay không?
* Khoản thứ Hai:
         - Người ăn chay không đủ 10 ngày trong tháng tức nhiên làm lễ bạt tiến.
         - Khi hấp hối: Tụng bài kinh rắp Nhập cảnh... thì đã đành.
         - Khi tắt hơi: Lại đọc bài kinh đã chết rồi "Ba mươi sáu cõi Thiên Tào".
         – Rồi khi tới giờ cầu siêu chỉ đọc bài "Đầu vọng bái..." . Không cho đọc bài "Ba mươi sáu cõi Thiên Tào", như vậy là thế nào?
Tôi có giải thích cho họ biết rằng trong quyển Tang Lễ ra hồi năm 1975, Hội Thánh có ân tứ cho người ăn thiếu chay, hồi mới chết linh hồn còn yếu sợ họ sau đọa xuống Phong Đô nên đọc bài "Ba mươi sáu cõi Thiên Tào" để cho họ hồi dương trở lại, khi cầu siêu thì phải tùng theo luật nên không đọc.
Họ nói như vậy rằng:
- Hội Thánh từ bi quá như vậy đi đến chỗ thiếu công bằng, thi hành luật pháp thiếu nghiêm minh? Xin Hội Đồng Chưởng Quản và toàn Hội nghiên cứu giải quyết cho thỏa đáng.
* Khoản thứ Ba: - Về phần tang lễ cho nhi đồng, con nhà đạo từ một tuổi đến 17 tuổi có giấy tắm Thánh, giữ trọn trai giới, nếu quy vị thì được tụng đủ kinh nhưng không đăng điện, không làm phép đoạn căn, không làm tuần cửu, có thượng sớ mà sớ tân cố.
- Không làm phép đoạn căn thì được.
- Không đăng điện người ta cũng không đòi hỏi nhưng không tuần cửu, họ không được bằng lòng, họ phản ảnh.
Chiếu theo Châu Tri số 61 thì Đức Hộ Pháp dạy trẻ em từ ba tuổi chết, ăn đủ chay phải làm đủ kinh, phải hành pháp cắt dây oan nghiệt, đương nhiên phải có làm tuần cửu.
- Việc này xin xét lại.
* Khoản thứ Tư: - Trường hợp người tự vận không hành lễ tang theo phép đạo.
- Trường hợp người bị sét đánh, hành lễ tang phần thế đạo: Tế điện – không Cầu siêu – không tụng kinh đưa linh cữu – kinh hạ huyệt, có chú vãng sanh – không tuần cửu.
HỎI: Vậy khi di linh cữu an táng có bảng đạo, phướn Thượng Sanh hay không?
Xin Hội Đồng Chưởng Quản đưa ra Hội bàn thảo rồi quyết nghị cụ thể, từ trước đến giờ nói chuyền với nhau chớ không có văn bản nào cụ thể.
* Khoản thứ Năm: - Về tẩn liệm, cất hay không? Việc nầy nó có liên quan về phần hành chuyên môn, xin Hội Đồng Chưởng Quản mời Ông Rùa về họp bàn cho cụ thể hơn.
- Về day đầu vô – day đầu ra: Việc nầy đã quyết định rồi, không bàn nữa.
Các khoản vừa nêu trên kính trình lên Hội Đồng Chưởng Quản ghi vào chương trình phiên họp để bàn thảo.
Ban Cai Quản chúng tôi thành thật tri ân.
Nay kính,
Ngày 24 tháng 5 năm Tân Mùi
(05-7-1991)
TM. Ban Cai Quản Thánh Thất Thị Trấn
CAI QUẢN
(ký tên)
Giáo Hữu THƯỢNG LÝ THANH



ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
(Lục thập thất niên)
TÒA THÁNH TÂY NINH

PHÚC TRÌNH
Kính gởi: HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
Của HỘI THÁNH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ -TÒA THÁNH TÂY NINH-
Kính quý Hội Đồng,
Căn cứ Văn thư số 01/67.HĐCQ.VT ngày 16-10-Tân Mùi (21-11-1991), Hội Đồng Chưởng Quản giao cho Ban Soạn Thảo Giáo Trình Giáo Lý kiểm duyệt lại các từ trong bản Kinh Lễ năm 1975 cho đúng chính văn để Hội Đồng Chưởng Quản lập thủ tục xin tái bản.
Căn cứ tờ trình ngày 21-10-Tân Mùi (26-11-1991) Ban Soạn Thảo Giáo Trình Giáo Lý xin Hội Đồng Chưởng Quản bổ sung nhân sự để việc kiểm duyệt các từ trong Kinh được chu đáo.
Căn cứ Văn thư số 7/67.HĐCQ.VT ngày 23-10-Tân Mùi (28-11-1991) và số 12/67.HĐCQ.VT ngày 27-10-Tân Mùi (2-12-1991) Hội Đồng Chưởng Quản bổ sung 10 thành viên cho Ban Soạn Thảo Giáo Trình Giáo Lý để tiến hành kiểm duyệt các từ trong Kinh.
Căn cứ Biên bản của Ban Kiểm Duyệt các từ trong Kinh họp từ ngày 25-10-Tân Mùi đến ngày 29-10-Tân Mùi toàn Ban đã xem xét và chỉnh lại một số từ chênh lệch cho phù hợp với chính văn.
Nay Ban Kiểm Duyệt các từ trong Kinh kính phúc trình lên Hội Đồng Chưởng Quản tường định.
(Đinh kèm 2 Biên bản họp của Ban, mỗi bản 9 tờ).
Nay kính,
Tòa Thánh, ngày 2 tháng 11 Tân Mùi
(7-12-1991)
TM. BAN KIỂM DUYỆT CÁC TỪ TRONG KINH
TRƯỞNG BAN
(ký tên)
Phối Sư THƯỢNG NHÃ THANH
CÁC THÀNH VIÊN TRONG BAN:
1. Cãi Trạng LÊ MINH KHUYÊN, Phó Hội Trưởng HĐCQ Đ/t Nghi Lễ và Luật Pháp (ký tên)
2. Giáo Sư NGỌC NINH THANH, P/t Nghi Lễ ĐT (ký tên)
3. Chơn Nhơn PHẠM DUY HOAI, P/t Nghi Lễ Nam P/BÂT (ký tên)
4. Nhạc Sư TRẦN TUYỀN ĐIỆN, Cai Quản Ban Nhạc TT (ký tên)
5. Giáo Sư NGỌC TẤN THANH, Ban Soạn Thảo GT.GL (ký tên)
6. Chơn Nhơn VÕ PHÁT TÂN, Ban Soạn Thảo GT.GL (ký tên)
7. Giáo Sư LÝ HƯƠNG NHÀN, P/t Nghi Lễ Nữ P+TT (ký tên)
8. Giáo Sư PHAN HƯƠNG MINH, P/t Nghi Lễ BÂT và KN (ký tên)
9. Giáo Sư HUỲNH HƯƠNG HIẾU, Ban Soạn Thảo GT.GL (ký tên)
10. Chơn Nhơn TẠ THỊ THẾ, Ban Soạn Thảo GT.GL (ký tên)
11. Chơn Nhơn LÊ THỊ NGHỀ, P/t Nghi Lễ BÂT (ký tên)
12. Chí Thiện PHAN TRUNG CHẨN, Ban Soạn Thảo GT.GL (ký tên)
13. Giáo Hữu VÕ HƯƠNG NHIỀU, Ban Soạn Thảo GT.GL (ký tên)
14. Giáo Thiện VÕ THỊ HOA, Cai Quản Giáo Nhi TT (ký tên)
15. Giáo Thiện NGUYỄN THỊ BA, Phó Cai Quản Giáo Nhi TT (ký tên)
16. Lễ Sanh THƯỢNG LỀ THANH, Qu. Cai Quản Ban Lễ TT (ký tên)
17. Lễ Sanh NGỌC HỒNG THANH, Cai Quản TT Trường Tây (ký tên)
THƯ KÝ:
- Giáo Hữu THÁI LỆ THANH (ký tên)



TIỂU SỬ CÔNG NGHIỆP HÀNH ĐẠO CỦA HIỀN HUYNH TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN NGUYỄN VĂN HỢI LIỄU ĐẠO HỒI 20 GIỜ 45 NGÀY 13 THÁNG 11 TÂN MÙI (18-12-1991)
---
Kính HỘI THÁNH, HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN,
Kính Chư Chức Sắc, Chức Việc và toàn Đạo Lưỡng Phái.
Kính quý vị:
Nhơn danh PHỐI SƯ HỘI TRƯỞNG HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN, tôi xin tuyên đọc Tiểu sử công nghiệp hành đạo của Hiền Huynh TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN NGUYỄN VĂN HỢI trong buổi sanh tiền đã dày công với đại nghiệp Đạo.
Hiền Huynh Tiếp Dẫn Đạo Nhơn NGUYỄN VĂN HỢI sanh ngày 20 tháng Chạp năm 1911 tại làng Thạnh Đức, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Thường trú tại ấp Hiệp An, xã Hiệp Tân, huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh.
Nhập môn ngày 11 tháng 11 năm Canh Ngọ (30-12-1930).
Sau khi nhập môn rồi là môn đệ của Đức CHÍ TÔN ĐẠI TỪ PHỤ trọn hiến thân hành đạo cho HỘI THÁNH ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ TÒA THÁNH TÂY NINH, lo lập công bồi đức cùng với ban xây dựng ĐẠO ĐỨC HỌC ĐƯỜNG tại Nội Ô Tòa Thánh, mở lớp giáo huấn đào tạo được một số học sinh thành tài đến ngày nay đã trở thành Chức Sắc ưu tú của nền Đại Đạo...
- Năm 1934 thọ thiên ân phẩm SĨ TẢI Hiệp Thiên Đài do Thánh Giáo Đức NGUYỆT TÂM CHƠN NHƠN phong thưởng.
- Năm 1936: Nghị định không số ngày 21 tháng 2 Bính Tý (1936) lãnh nhiệm vụ Thẩm án về hình luật của Tòa Đạo tại tỉnh Gia Định.
- Năm 1947: Thánh Lịnh số 235/TL ngày 7 tháng 2 năm Đinh Hợi thăng phẩm Thừa Sử.
- Thánh Lịnh số 186/TL ngày 3 tháng 12 Đinh Hợi lãnh trách nhiệm Pháp Chánh Miền Đông (Nam Tông Đạo).
- Thánh Lịnh số 34/PC ngày 12 tháng 9 Nhâm Thìn (1952) thăng phẩm Giám Đạo.
- Thánh Lịnh số 65/VP.HP ngày 12 tháng 2 Quý Tỵ (1953) Dự khuyết Hội đồng Tối cao của Hội Thánh.
- Thánh Lịnh số 17/PC ngày 2 tháng 6 Quý Tỵ (1953) lãnh nhiệm vụ Ủy viên Ban Giám Khảo khoa thi Luật Sự Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 19/PC ngày 18 tháng 7 Quý Tỵ (1953) lãnh nhiệm vụ Hướng Đạo Đoàn Đại Đạo.
- Thánh Thơ số 54/TS ngày 13 tháng 6 Đinh Dậu (1957) lãnh nhiệm vụ Giảng Viên nơi Hạnh Đường.
- Đạo Lịnh số 27/ĐL ngày 25 tháng 6 Đinh Dậu (1957) lãnh nhiệm vụ Giảng huấn Đạo học lớp Công truyền nơi Hạnh Đường.
- Thánh Thơ số 46/VT ngày 30 tháng 5 Mậu Tuất (1958) lãnh nhiệm vụ Trưởng Ban Giám Khảo khóa Huấn Luyện Lễ Sanh nơi Hạnh Đường.
- Đạo Lịnh số 27/ĐL ngày 29 tháng 2 Kỷ Hợi (1959) lãnh nhiệm vụ Giảng huấn khóa Lễ Sanh nơi Hạnh Đường.
- Thánh Thơ số 51/VT ngày 4 tháng 4 Quý Mão (1963) lãnh nhiệm vụ Giảng huấn môn Pháp Luật nơi Hạnh Đường.
- Đạo Lịnh số 02 ngày 8 tháng 2 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Đại diện Hiệp Thiên Đài chứng sự Đại Hội Nhơn Sanh.
- Đạo Lịnh số 10/ĐL ngày 14 tháng 2 Giáp Thìn (1964) hành sự tại Bộ Pháp Chánh.
- Sắc Lịnh số 01/SL ngày 2 tháng 4 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Trưởng Văn Phòng Bộ Pháp Chánh.
- Đạo Lịnh số 28/ĐL ngày 03 tháng 5 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Nghị Viên Ban Kỷ Luật Hiệp Thiên Đài.
- Đạo Lịnh số 47/ĐL ngày 19 tháng 5 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Giảng huấn môn Giáo Lý nơi trường Trung học Lê Văn Trung.
- Sắc Lịnh số 13/SL ngày 12 tháng 6 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Giảng huấn môn Pháp Luật nơi Hạnh Đường.
- Sắc Lịnh số 16/SL ngày 14 tháng 7 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Giảng viên môn Pháp Luật nơi Học Đường Phước Thiện.
- Đạo Lịnh số 36/ĐL ngày 17 tháng 8 Giáp Thìn (1964) lãnh nhiệm vụ Giám Khảo khoa thi Luật Sự Hiệp Thiên Đài.
- Đạo Lịnh số 20/ĐL ngày 24 tháng 2 Ất Tỵ (1965) lãnh nhiệm vụ Nghị Trưởng Ban Kỷ Luật Hiệp Thiên Đài.
- Đạo Lịnh số 35/ĐL ngày 21 tháng 4 Ất Tỵ (1965) lãnh nhiệm vụ Trưởng Văn Phòng Bộ Pháp Chánh kiêm Đặc trách điều hành Ban Thế Đạo.
- Đạo Lịnh số 41/ĐL ngày 6 tháng 9 Ất Tỵ (1965) lãnh nhiệm vụ Trưởng ban kiểm tra hỗn hợp hòa giải các việc tranh chấp trong Đạo.
- Thánh Lịnh số 14/TL ngày 18 tháng 10 Ất Tỵ (1965) thăng phẩm Cãi Trạng Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 60/TL ngày 24 tháng 3 Bính Ngọ (1966) lãnh nhiệm vụ Biện Hộ Bộ Pháp Chánh Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 07/TL ngày 17 tháng 12 Đinh Mùi (1968) lãnh nhiệm vụ Cãi Án Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 16/TL ngày 18 tháng 12 Đinh Mùi (1968) lãnh nhiệm vụ Đặc trách Ban Thế Đạo.
- Thánh Lịnh số 06/TL ngày 17 tháng 11 Tân Hợi (1971) thăng phẩm Chưởng Ấn Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 06/TL ngày 6 tháng 12 Canh Tuất (1971) lãnh nhiệm vụ Trưởng ban Vận động tài chánh xây dựng Đại Học Đường.
- Thánh Lịnh số 61/TL ngày 19 tháng 6 Quý Sửu (1973) lãnh nhiệm vụ trong Hội Đồng Kiểm Án Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 07/TL ngày 21 tháng Giêng Giáp Dần (1974) lãnh nhiệm vụ Pháp Chánh Sơ Thẩm Hiệp Thiên Đài.
- Thánh Lịnh số 04/TL ngày 17 tháng 11 Ất Mão (1975) thăng phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Hiệp Thiên Đài.
- Ủy Nhiệm Thư số 119/CQ.HTĐ ngày 6 tháng 6 Ất Mão (1975) lãnh nhiệm vụ Đại diện Hội Thánh liên lạc thường trực với Chánh quyền Cách mạng tỉnh Tây Ninh.
- Thánh Lịnh số 06/TL ngày 18 tháng 3 Bính Thìn (1976) lãnh trách nhiệm Trưởng Ban Đạo Sử.
- Thánh Lịnh số 11/TL ngày 19 tháng 9 Bính Thìn (1976) lãnh trách nhiệm Chưởng Quản Bộ Pháp Chánh.
Thưa quý Chức Sắc, Chức Việc và toàn Đạo Lưỡng Phái,
Ôn lại quá trình hành đạo của Hiền Huynh TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN NGUYỄN VĂN HỢI, trên 60 năm tuổi đạo gặp biết bao nhiêu truân chuyên khổ hạnh mà Hiền Huynh vẫn miệt mài trong trách nhiệm chia xẻ những nỗi vui buồn cùng HỘI THÁNH nói chung, nói riêng với chư Chức Sắc Hiệp Thiên Đài trong những lúc cơ Đạo biến chuyển thăng trầm vinh nhục mà Hiền Huynh vẫn bền lòng không nản chí, cương quyết giữ dạ trung thành cùng HỘI THÁNH.
Hiền Huynh là một Chức Sắc Thiên Phong lão thành làm mẫu mực để cho đàn em noi gương, với đức tánh hiền hòa rộng lượng, khoan dung đối với đàn em, Hiền Huynh hết dạ thương yêu, đùm bọc dìu dắt an ủi vỗ về, với đức độ từ ái của Hiền Huynh thu phục được nhơn tâm, cảm hóa được lòng người, khiến cho đồng đạo ai ai cũng thương yêu cảm mến!
Công nghiệp hành đạo của Hiền Huynh TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN NGUYỄN VĂN HỢI sẽ ghi đậm nét son nơi thanh sử Đạo để cho đoàn hậu tấn soi chung.
Trong những năm qua, vì niên kỷ quá cao, sức khỏe hữu hạn. Mặc dù tinh thần của Hiền Huynh vẫn còn tráng kiện sáng suốt, song thể xác phải theo định luật của tạo đoan và mạng căn thiên số đã định, nên Hiền Huynh đã trút hơi thở cuối cùng vào lúc 01 giờ ngày 14 tháng 11 Tân Mùi (19-12-1991) tại tư gia, để về cõi vĩnh hằng, hưởng thọ 81 tuổi.
Hôm nay mạng căn đã xong, công viên quả mãn, quy hồi phẩm vị thiêng liêng, HỘI THÁNH và toàn Đạo ngậm ngùi thương tiếc, từ đây Hội Thánh vắng bóng một Chức Sắc Thiên Phong lão thành rất dày công vun bồi đại nghiệp Đạo.
Tôi xin thay mặt HỘI THÁNH, HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN, toàn thể Chức Sắc nam nữ xin chân thành phân ưu cùng tang gia hiếu quyến.
Trước khi dứt lời, kính mời chư Chức Sắc, Chức Việc và toàn Đạo lưỡng phái đồng hướng vào BÁT QUÁI ĐÀI thành tâm cầu nguyện Đức CHÍ TÔN ĐẠI TỪ PHỤ, Đức ĐẠI TỪ MẪU và các Đấng Thiêng Liêng ban hồng ân cho anh linh cố TIẾP DẪN ĐẠO NHƠN NGUYỄN VĂN HỢI được cao thăng thiên vị./-
Tòa Thánh, ngày 16 tháng 11 năm Tân Mùi
(21-12-1991)
TM. HỘI THÁNH
HỘI TRƯỞNG HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN
Phối Sư THƯỢNG THƠ THANH




1991_12_18 Điếu Văn của Phối Sư Thượng Nhã Thanh đọc trước quan tài của Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Nguyễn Văn Hợi[1].
ĐIẾU VĂN
Đọc trước quan tài của Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn Chức Sắc Hiệp Thiên Đài quy vị tối ngày 13-11-Tân Mùi (18-12-1991) tại Nghĩa Trang Cực Lạc Thái Bình.
---
Kính thưa HỘI THÁNH
Kính thưa HỘI TRƯỞNG HỘI ĐỒNG CHƯỞNG QUẢN HỘI THÁNH CAO ĐÀI TÒA THÁNH TÂY NINH
Kính thưa CHÍNH QUYỀN và MẶT TRẬN TỔ QUỐC CÁC CẤP
Kính thưa Chức Sắc, Chức Việc, Đồng đạo Nam Nữ và các Ban trực thuộc tang tế.
Hôm nay là ngày lễ Tống táng Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, một Chức Sắc cao cấp của Hiệp Thiên Đài. Tin buồn nầy đã đưa đến sâu đậm nhiều người, nhiều nơi, còn trong nền đạo Cao Đài lại mất đi một Chức Sắc lão thành dày công nghiệp đã có mặt từ buổi ban sơ đồng chung lo cơ đạo đến ngày nay.
Từ ngày Đức Chí Tôn khai đạo đến ngày giờ nầy, nền Đại Đạo đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm, thì phần riêng Ngài cũng có ít nhiều nỗi đeo mang, vì người tu hành đương nhiên phải chịu những cơ thử thách mới thấy ngày khoa hội Bảng Vàng nêu tên.
Ngài mất đi để bà nhà mến luyến đau thương chỉ hình dung nhớ bóng bạn đời ở trên giường dưỡng bệnh, cái buồn khổ đó sao sớm vơi khuây cho đặng, dù ai chặt dạ thấy cũng phải đau lòng rơi lệ, nào con cháu đó đây khóc lóc, vì sao Ông Cha vội bước ra đi, Bạn Đạo còn đây mà trước khi Ngài đi không một lời từ biệt.
Hỡi ôi đêm khuya canh vắng.
Bỗng dưng nghe tiếng trống chuông Đền Thánh đổ 4 hồi, để báo từ Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn vừa quy vị, hay tin ấy mọi người đều thương tiếc! Không ai ngờ Ngài cởi hạc hồi quê nhưng luật tạo hóa cơ trời định sẵn cho mọi người phải chịu cảnh sanh ly, chỉ sống ở đời biết chọn Phước Họa đó thôi. Để an chí noi theo mà lập vị, may mắn thay! Đạo Cao Đài khai mở độ nhơn sanh thoát khổ trầm luân, Ngài là người mộ đạo đầu tiên lần chân bước để về cùng Thượng Đế, Ngài chịu tùng Hội Thánh Hiệp Thiên từ Luật Sự chí đến trên Phẩm chót được đối hàm Thiên Thánh bên Cửu Trùng.
Nhớ khi xưa!
Nhờ đường đạo mà biết Ngài lúc tôi còn trẻ, Ngài hay nhắc quê cũ của tôi, Ngài có đến một lần, do lệnh Thầy (Đức Hộ Pháp) truyền đến để làm phép độ thăng cho Ông tôi vừa quy vị. Rồi cũng nhờ đường lập công bồi đức mà tôi được nghe Ngài thuật nhiều chuyện đạo khi thịnh lúc trầm, khi khổ cực lắm hồi vươn cao.
Đường đạo mà Ngài đã đi qua nhiều trách nhiệm điển hình, tên Ngài còn mãi mãi ở Đạo Luật Mậu Dần, phận sự Từ Hàn, Sĩ Tãi Hiệp Thiên Đài NGUYỄN VĂN HỢI. Nhiều vị lớn tuổi gọi Ngài là Thầy, vì đảm đương Hiệu Trưởng Đạo Đức Học Đường, trước nhiệm kỳ của Giáo Hữu NGỌC LƯƠNG THANH. Đặc trách Cố vấn Ban Thế Đạo tạo bao người Hiền Tài lo đạo giúp đời. Nhờ ý thức được mầu nhiệm do Đức Chí Tôn dùng huyền diệu mở Đạo Cao Đài để độ tận chúng sanh, tránh nạn đọa đày luân hồi quả báo, nên Ngài vững bước tu hành lập công không nản chí. Nay công viên quả mãn phủi sạch bợn trần về bái mạng mà chầu THƯỢNG ĐẾ, để mặc cho thế nhân thương tiếc!
Nhờ Ngài tính tình hiền dịu cương trực, tinh thần đạo đức ôn tồn nên được nhiều bậc yêu mến. Mới mấy tháng trước đây, trước khi lấp đất phủ quan tài Hiền Huynh Cãi Trạng Nguyễn Thành Tất, cũng như Hiền Tỷ Phối Sư Hương Nữ, Ngài đã tỏ niềm luyến tiếc cho cảnh đời đạo của hai Vị nầy đã được Ngài tán tụng công nghiệp rất xứng đáng để về bái mạng Ngọc Hư Cung. Ngày mùng một tháng nầy đồng đạo còn thấy Ngài mặc Thiên Phục chầu lễ Đức Chí Tôn nơi Đền Thánh. Rồi mới đây ngày Đại tường của cô Tư Phối Sư Hương Tranh, tôi được dịp ngồi cùng bàn với Ngài dùng bữa, Ngài trò chuyện tâm tình vui vẻ tự nhiên và cho biết rằng sau bữa cơm ấy Ngài về để đi Thành phố thăm bà bạn đời đang dưỡng bệnh ở nhà thương. Vậy mà nay Ngài đã trở thành người thiên cổ, không ngờ phút bạo bệnh chẳng sao cứu kịp, đành vui lòng quay gót quy thiên!
Chúng tôi hay tin hơi muộn, nhưng cũng còn thấy thi thể Ngài nằm êm như ngủ và sắp nghe kinh để nhập áo quan.
“Dây oan nghiệt dứt rời trái chủ,
Nương Huyền Linh sạch giũ thất tình”.
Hỡi ôi! Cơ nghiệp đạo còn đây, nên cần nhiều Chức Sắc đồng lèo lái, nhưng tạo hóa khiến triệu chi Chức Sắc lão thành vội sớm lìa trần. Tuổi Ngài đạt 81 mặc dù nhưng sức khỏe chưa phải lúc đến hồi suy kém, ngặt thiên số nam tào đã định, dù có muốn ở lại trần thế chúng tôi tưởng khó ước nguyện cầu xin.
Sau sự quyến luyến thương mến của gia đình, bạn thân, bà con quyến thuộc, sui nghĩa, bạn đạo, linh cữu Ngài được di quan vào Báo Ân Từ gần MẸ HIỀN thiêng liêng, để Hội Đồng Chưởng Quản cũng như toàn Đạo cúng tế tạ công ơn dài của Ngài lo đạo. Kế vừa rồi lại vào Đền Thánh để Ngài bái lễ Đức Chí Tôn, các Đấng lần cuối và mỗi người có mặt đều cầu nguyện, cầu siêu cho Ngài xin ơn trên Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, các Đấng ban phước lành cho Ngài được cao thăng thiên vị.
Giờ đây Thuyền Bát Nhã vừa đà cập bến, đất Thánh đây rộng lớn bao la, nhìn lại thời gian qua đã bao bạn đạo nằm đây, cũng ở trên đất cực lạc Nghĩa Trang Thái Bình, gởi xương tàn hài cốt nơi nầy nhờ hậu thế giữ gìn nguyên vẹn để đúng câu: “Vạn Sự viết vô, nhục thể thổ sanh huờn lại thổ”.
Lát nữa đây quan tài của Ngài nhờ ba tấc đất phủ lên phần mộ, chắc linh hồn Ngài gặp được nhiều bạn cũ tri âm. Chơn linh Ngài thoải mái phiêu diêu nơi miền thượng giới.
Tiếc là tiếc cho chúng tôi còn ở lại, nào bạn đời của Ngài còn bệnh nan y. Con cháu, bạn thân, bạn đạo, thân bằng quyến thuộc ai cũng ngậm ngùi rơi lệ. Ngài hiển linh nhớ về phò trợ, cả nghiệp đời của vợ lẫn cháu con được xum vầy vui vẻ.
(Mất câu hay trang gì đó!!!)
nhắn nhủ ráng lo âm chất trau dồi tâm tánh mà hưởng ân huệ ĐỨC CHÍ TÔN, ĐỨC PHẬT MẪU ban cho sau nầy, hãy hỗ trợ bà con xa gần, bạn thân bạn đạo cùng cơ nghiệp Đạo vận hành tốt đẹp, đó là lời nguyện ước của mọi người đã tiễn Ngài đến đây là nơi cuối cùng để an nghỉ giấc nghìn thu.
Tôi xin thay mặt Chức Sắc Cửu Trùng Đài Nam Nữ và toàn Đạo có mặt buổi lễ an táng Ngài Tiếp Dẫn Đạo Nhơn, thành thật phân ưu cùng tang gia hiếu quyến, xin cầu nguyện ơn trên hai đấng PHỤ MẪU ban điển lành cho Ngải được cao thăng thiên vị.
Hỡi ôi!
Thương thay!
Hiển linh xin chứng!
PHỐI SƯ THƯỢNG NHÃ THANH
Đọc trước phần mộ ngày 16-11-Tân Mùi (1991).



* BBT/Hiền Tài Huỳnh Tâm. Mai Văn Tìm. Nguyễn Văn An.



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét